Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam là nơi lưu giữ các nền văn hóa giá trị cần được bảo tồn của các dân tộc Việt Nam. Nơi đây được nhà nước chú trọng trong việc lưu giữ truyền thống, bảo tồn các nền văn hóa của 54 dân tộc.

Để nền văn hóa của các dân tộc luôn được gìn giữ và phát huy các lễ hội tại Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam thường xuyên tổ chức mang theo âm hưởng đặc sắc của từng dân tộc.

  1. Lễ hội “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc”

Với các hoạt động, sự kiện mừng Đảng, mừng Xuân Mậu Tuất (2018) nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc tại “Ngôi nhà chung của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, đồng thời mang đến phong vị Tết truyền thống dân tộc cho du khách những ngày đầu Xuân năm mới.

Và tổ chức các hoạt động lễ hội đặc sắc, trò chơi dân gian tiêu biểu, các món ăn truyền thống dịp năm mới và các loại sản vật đặc trưng của từng dân tộc, đan xen là hoạt động biểu diễn các dân ca, dân vũ phong phú, hấp dẫn.

Lễ hội tại Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam năm 2018Lễ hội “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc”

2. Lễ hội “Thanh niên và đồng báo các dân tộc với biển đảo quê hương”

Được diễn ra vào 1->31/03/2018 nhằm giới thiệu các hoạt động thiết thực, có ý nghĩa gắn với tình yêu biển đảo của thanh niên và đồng bào các dân tộc tại “Ngôi nhà chung” của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, cùng với các lễ hội và hoạt động dân ca, dân vũ mang khí sắc mùa xuân.

>> XEM THÊM: Ha Noi Paragon Hill

Lễ hội tại Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam năm 2018 Lễ hội “Thanh niên và đồng báo các dân tộc với biển đảo quê hương”

3.Lễ hội “Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam”

Lễ hội “Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam” diễn ra từ ngày 19->22/04/2018. Chủ đề của lễ hội năm nay là bản sắc văn hóa các dân tộc góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.

Có tới 30 dân tộc tham gia khoảng 270 người trong lễ hội sẽ được tái hiện lại những văn hóa của các dân tộc như: Tết Chol Chnăm Thmây của đồng bào Khmer, dân tộc Tây Bắc sẽ tái hiện lễ Xăng Khan của dân tộc Thái, Lễ cầu mưa của dân tộc Gia Rai và tổng hòa các loại hình nghệ thuật như: Ca, múa, âm nhạc, phục trang, hóa trang, hội họa, ẩm thực, mang đặc trưng riêng của các dân tộc.

Lễ hội tại Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam năm 2018

Lễ hội “Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam”

4. Lễ hội  “Sắc màu các dân tộc Việt Nam”.

Được điễn ra vào dịp 30/04 và 01/05 với chủ đề “Ngày hội non sông thống nhất”.

Lễ hội bát đầu từ ngày 28->01/05/2018 tái hiện lại phiên chợ vùng cao Sơn La tạo nên không khí đậm nét chợ vùng cao với các hoạt động văn nghệ, văn hóa của các dân tộc Mông, Dao, Thái, Mường, Khơ Mú, Tày,…cùng với ẩm thực, đặc sản truyền thống, văn hóa dân tộc, trò chơi dân gian, sản vật các dân tộc….

Lễ hội tại Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam năm 2018

Lễ hội  “Sắc màu các dân tộc Việt Nam”.

 Lễ hội tại Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam giới thiệu đến du khách nét văn hóa đặc trưng như: nghệ thuật khèn Mông; Chiếc khăn Piêu và nghệ thuật thêu khăn Piêu – nét đẹp của cô gái Thái. Ngoài ra còn tái hiện Lễ hội Xên Cung dân tộc Khơ Mú,…

XEM CHI TIẾT VIDEO về Làng Văn Hóa 54 dân tộc Việt Nam

XEM THÊM => [ Giá vé vào làng văn hoá 54 dân Tộc Việt Nam ]

Liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và nhận dịch vụ với ưu đãi tốt nhất:

CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ DU LỊCH BA VÌ
Trụ sở chính: thôn Quảng Phúc, xã Yên Bài, Ba Vì, Hà Nội
E-mail: dulichbavi.com.vn@gmail.com – Hotline 094.255.0165

Để chào mừng ngày Ngày văn hóa các Dân tộc Việt Nam năm 2017 Làng văn hóa Du lịch các Dân tộc Việt Nam đã tổ chức lễ hội kéo dài 5 ngày (19/04 – 23/04).

Lễ hội bao gồm nhiều hoạt động:

+Lễ hội truyền thống của các dân tộc

+ Ẩm thực đặc trưng của các vùng miền

+ Giới thiệu, chế tác nhạc cụ dân tộc từ tre nứa.

+ Thi đấu và biểu diễn võ thuật dân tộc

Tham gia Ngày hội ngoài 8 dân tộc đang hoạt động thường xuyên tại Làng gồm:  Mường (Hòa Bình), Thái (Nghệ An), Khơ Mú (Điện Biên), Dao (TP. Hà Nội), Tày (Thái Nguyên), Ê Đê (Đắk Lắk), Tà Ôi (Thừa Thiên Huế), Khmer (Sóc Trăng), còn có sự tham gia của dân tộc Lô Lô (Hà Giang), Thổ (Nghệ An), Cơ Tu (Quảng Nam), H’rê (Quảng Ngãi) và Gia Rai (Gia Lai).

Tất cả sẽ góp phần tạo nên một không gian văn hoá đa sắc màu, đầy sức sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam tại “Ngôi nhà chung” Làng Văn hoá – Du lịch các dân tộc Việt Nam.

CÁC LỄ HỘI Ở BA VÌ HÀ NỘI

Tết Nhảy độc đáo của người Dao

 

Tết nhảy độc đáo của người Dao
Người Dao ở nhiều vùng ăn Tết từ tháng chạp, tổ chức nhảy múa suốt đêm để thể hiện lòng biết ơn với tổ tiên và cầu mong mùa màng tươi tốt.
Tết nhảy hay “Nhiang chằm Ðao” là nghi lễ cúng Bàn Vương thủy tổ của dân tộc Dao ở nhiều vùng trong cả nước như Phú Thọ, Hòa Bình, Lào Cai, Thanh Hóa hay Ba Vì (Hà Nội). Theo truyền thuyết, trong chuyến di cư vượt biển sang Việt Nam tìm đường sống của con cháu 12 họ Dao, sau nhiều tháng lênh đênh trên biển mà chẳng tới bờ, bất ngờ đoàn thuyền gặp bão, tính mạng bị đe dọa.

 

Trong cơn nguy cấp, các họ Dao khấn cầu xin Bàn Vương và tổ tiên giúp đỡ vượt qua cơn hoạn nạn, vào đến đất liền an toàn hứa sẽ làm lễ tạ ơn. Lời cầu linh ứng, từ đó về sau, các họ người Dao, kể cả Dao đỏ, Dao tiền hay Dao quần chẹt đều tổ chức Tết nhảy để tạ ơn tổ tiên.

Cac-le-hoi-o-Ba-Vi
Phụ nữ Dao Đỏ

Không giống Tết của người Kinh, tùy vào điều kiện kinh tế của từng gia đình mà mỗi nhà người Dao mới làm Tết nhảy. Thường vài năm mới tổ chức một lần, nhưng không lâu quá 12 năm, vì như thế là vong ân bội nghĩa với tổ tiên, trời đất. Thời gian tổ chức ở mỗi nơi khác nhau, khi thì rằm hoặc 25 tháng chạp, khi chỉ trước Tết Nguyên đán một hôm.

 

Tết nhảy chỉ làm ở “Nhà cái” (con trưởng, trưởng họ) và là việc của mỗi gia đình, nhưng được cả bản chung tay góp sức từ nấu cỗ đến các nghi thức lễ lạt, nên coi như Tết chung của cả vùng. Người Dao không câu nệ chuyện ăn uống trong Tết nhảy. Lễ cúng chỉ giản đơn gồm thịt và rượu để dâng lên tổ tiên, sau đó được mang ra thiết đãi bà con.

 

Không cà kê chén rượu, cũng không lai rai khách sáo, bữa cơm Tết nhanh chóng kết thúc để nhường chỗ cho phần quan trọng và độc đáo nhất của ngày Tết là nhảy múa tri ân. Khi tiếng trống, tiếng kèn, chuông đồng vang lên rộn rã là lúc bước chân của những người đàn ông Dao nhún nhảy say sưa theo điệu nhạc. Trước tiên là các điệu múa đưa đường, bắc cầu để đón thần linh, tổ tiên về ăn Tết. Điệu chào bố mẹ, tổ tiên thì nhảy múa một chân, đầu cúi, ngón tay trỏ giơ cao. Điệu mời tiên nương giáng trần được mô phỏng theo điệu cò bay, hai tay dang ngang vẫy vẫy nhịp nhàng…

Cac-le-hoi-o-Ba-Vi
Múa” Ra binh vào tướng “

Vào chính lễ, khởi đầu là điệu múa “tam nguyên an ham” do thầy múa và khoảng 10 thanh niên nam giới biểu diễn để mời thần thánh các binh tướng về dự. Tiếp đến điệu múa dao hay còn gọi là múa “ra binh vào tướng” với những động tác nhảy, quay, nhún, bật tung người rất nhanh, mạnh, dứt khoát, lướt đi trong tiếng trống, thanh la, não bạt trầm hùng.

 

Rất nhiều điệu múa truyền thống theo quan niệm của từng vùng như múa phát nương, múa chạy cờ, múa kiếm, múa chuông, múa văn, múa võ… Đặc sắc nhất vẫn là múa bắt rùa. Rùa là một trong hai loài động vật được người Dao tôn thờ và kiêng không bao giờ ăn thịt, nên điệu múa bắt rùa dù nhịp nhảy và lời hát có khác nhau đôi chút giữa các vùng nhưng vẫn mang nhiều ý nghĩa đối với người Dao.

 

Trước đèn thờ cúng Bàn Vương, thầy múa đi trước, theo sau là một tốp thanh niên độ vài chục người ăn mặc đẹp, gọn gàng nối tiếp nhau đảo quanh đèn cúng, diễn tả các động tác tìm rùa, bắt rùa, trói rùa khiêng về nhà để dâng cúng Bàn Vương và các vị thần thánh tổ tiên.

Cac-le-hoi-o-Ba-Vi
Một điệu múa trong Tết nhảy của người Dao

Có nơi nam giới đứng thành vòng tròn, hai người một quay mặt vào nhau để múa bắt rùa. Mỗi người cầm một đồ vật nào đó có thể tạo ra âm thanh theo mỗi điệu nhảy. Khi chân phải bước lên trước, chân trái khụy gối thấp hơn thì đồng thời hai tay cầm nhạc cụ gõ vào nhau.

 

Nhìn chung động tác của các điệu múa nhảy khá đơn giản, mang tính tượng hình cao nhưng diễn ra liên tục trong 3 ngày Tết nên cần người khỏe mạnh tham gia. Ai mệt thì ra, người khác vào thay thế, người ra ăn uống rượu thịt no say rồi lại vào nhảy tiếp.

 

Cứ thế mỗi người nhảy múa hàng trăm lượt và động tác như uyển chuyển hơn trong men say rượu Tết, làm cho người xem có cảm giác mình đang được sống trong một thế giới giao hòa giữa quá khứ và hiện tại. Kết thúc Tết nhảy, tiếng tù và sẽ vang lên và tất cả lại cùng ăn thịt uống rượu, chúc gia chủ một năm tốt lành.

 

Xem thêm : Tìm hiểu về sân Golf quốc tế đồng mô – Ba Vì

Đền Và còn có tên gọi khác là Đông Cung nay thuộc xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Đây Là nơi thờ Tam vị đức thánh Tản, sắc phong Tam vị Quốc chúa thượng đẳng thần, là Đệ nhất phúc thần Tản Viên, hay còn gọi là Nam thiên thần tổ – vị tổ của bách thần ở phương Nam – cũng là vị thần đứng đầu Tứ bất tử (tức Sơn Tinh, tức Tản Viên Sơn thánh) và hai người em thúc bá là Cao Sơn (Sùng công) và Quý Minh (Hiển công).

le-hoi-den-va

Đền Và còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị như: Sắc phong của các triều đại, các đồ tế tự (trong đó có hai cây đèn đá thời Lê) và đặc biệt là những tấm ván gỗ khắc văn thơ của các danh sĩ như: Nguyễn Khản, Nguyễn Thiện Kế, Trần Lê Nhân… khiến cho không gian thiêng và không gian văn hóa ở đây hòa quyện vào nhau, mang đậm bản sắc văn hóa xứ Đoài.
Xuân Thu nhị kỳ, lễ hội đền Và được tổ chức một năm hai lần vào các ngày từ 13 đến 15 tháng Giêng và từ 14 đến 15 tháng Chín (âm lịch). Ba năm một lần, vào các năm: Tí, Ngọ, Mão, Dậu, tổ chức đại hội.
Lễ hội Rằm tháng Giêng ở đền Và là lễ hội của một vùng. Những năm đại hội có sự tham gia của tám làng thuộc ba huyện của hai tỉnh là các làng: Vân Gia, Thanh Trì, Nghĩa Phủ, Mai Trai, Đạm Trai (thuộc xã Trung Hưng huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn Tây; nay thuộc thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây), Phù Sa, Phú Nhi (trước kia là Bần Nhi, thuộc tổng Cam Giá Thịnh, huyện Phúc Lộc, tỉnh Sơn Tây; nay thuộc xã Viên Sơn, thị sã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây) và Di Bình (thuộc xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc).
Bắt đầu từ sáng ngày 13 tháng Giêng, mọi công việc chuẩn bị cho lễ hội như trang hoàng, bày biện ở trong và quanh khu vực đền đã được làng Vân Gia sở tại hoàn tất. Buổi chiều, các thôn cho người rước kiệu và lễ vật của thôn mình về tập trung trước sân đền. Sang giờ Tí ngày 14, tám thôn tổ chức tế phụng nghênh.

Đội hình ban tế gồm 16 cụ: Một chủ tế, 2 bồi tế, 1 đông xướng, 1 tây xướng, 1 cờ, 1 trống khẩu, 1 dẫn chúc, 1 đọc chúc và 7 người tiến lễ do các thôn cử ra; song theo quy định, ghế chủ tế phải thuộc về Vân Gia; 2 bồi tế thì một là Phù Sa, một là Di Bình. Sở dĩ có sự đặc cách ấy (và những quyền lợi khác, đặc biệt là với 2 thôn Vân Gia và Phù Sa, sẽ nói sau 2 thonh boheo quy d ) theo các cụ ở đây là bởi những lý do sau:
Đền nằm trên đất Vân Gia. Là dân sở tại, thôn Vân Gia phải có trách nhiệm lo cắt cử người trông nom, quét dọn và đèn hương hàng ngày ở đền cũng như trong những dịp lễ hội, nên việc dành cho Vân Gia một số quyền lợi là lẽ đương nhiên. Sau đó là Phù Sa, vì thôn này có công lớn trong việc công đức làm nhà tiền tế và là thôn có phần đất mà muốn sang đền Dội (ở thôn Di Bình bên kia sông) bắt buộc đoàn rước phải đi qua.